Đô thị hóa - Thực trạng và giải pháp

Quá trình đô thị hóa nhanh,một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường

Đô thị hóa là quá trình tất yếu đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt là các nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh. Đô thị hóa góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của khu vực, nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hóa cũng phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết như: vấn đề việc làm cho nông dân bị mất đất, phương pháp đền bù khi giải phóng mặt bằng, cách thức di dân, dãn dân… 

Thực trạng

Trong thế kỷ XX, sự gia tăng dân số quá nhanh và không kiểm soát được xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới. Theo các chuyên gia Liên Hợp Quốc, đến năm 2030 dân số thế giới sẽ vượt qua ngưỡng 8 tỷ.

Phần lớn nguyên nhân của đô thị hoá nảy sinh do khát vọng phát triển cấu trúc không gian của đô thị. Cùng với sự xuất hiện các khu đô thị mới, khu công nghiệp và những thành phố chính là sự thay đổi của các đô thị có sẵn về lượng một cách rõ ràng nhất. Đó là một hiện tượng tất yếu trên con đường phát triển của loài người nhưng nếu chúng ta không đi đúng hướng sẽ rất có hại cho môi trường và cho sức khỏe của con người.

Khi thành phố ngày càng được mở rộng thì những vấn đề liên quan đến đi lại, nghỉ ngơi, tiếp xúc với thiên nhiên... của cư dân trong các đô thị ngày càng cao. Đô thị càng phát triển và càng lớn thì cường độ di chuyển của người dân càng nhiều. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ra những khó khăn trong các đô thị hiện đại (ô nhiễm môi trường do các chất thải từ các phương tiện giao thông cơ giới, tai nạn giao thông…). Ngoài ra còn có những “kẻ thù” hết sức nguy hiểm cho xã hội và cho sức khoẻ của con người (cho cả cư dân bản địa và những người di cư hay vãng lai) do sự tập trung một khối lượng lớn người trên một diện tích có hạn của thành phố. Đó chính là các loại tệ nạn xã hội (nghiện hút, mại dâm, trộm cắp, lừa đảo…) và những loại bệnh tật vô phương cứu chữa của nền văn minh hiện đại (ung thư, tâm thần, bệnh nghề nghiệp...).

Sức “hấp dẫn” của cuộc sống đô thị và của các vùng đã được đô thị hoá là nguyên nhân chính lôi cuốn một khối lượng khổng lồ cư dân nông thôn đi tìm miền “đất hứa”. Mặt khác những thành phố lớn ngày càng hấp dẫn và lôi cuốn cư dân từ các đô thị nhỏ hơn cũng như từ các vùng nông thôn nên càng làm cho tình hình thêm phức tạp (hạ tầng kỹ thuật quá tải; cây xanh, mặt nước, không gian trống hiếm hoi…).

Sự phát triển không được kiểm soát của các đô thị sẽ dẫn đến những vấn đề không thể sửa chữa được lợi ích chỉ rơi vào một nhóm rất ít người trong xã hội còn thực tế dành cho đại đa số quần chúng lao động là đô thị hóa phát triển không bền vững: chất lượng nhà ở kém (không có chỗ ở và nơi cư trú không còn đủ không gian để có thể tự tổ chức các hoạt động văn hoá và đời sống), cuộc sống bấp bênh do giá cả sinh hoạt ngày một cao, người dân không tiếp cận được đầy đủ nền giáo dục chung của xã hội…

Chất lượng môi trường và cuộc sống của cư dân đô thị ngày càng xấu đi không phải chỉ vì hậu quả của đô thị hoá không bài bản mà còn do nhiều lý do khác nữa, trong đó việc quản lý là nguyên nhân cơ bản và có nhiều bất cập nhất! Nhiều chuyên gia trên thế giới đã nhận xét rằng: có một số lượng đáng kể quốc gia trên thế giới không thành công do chính quyền các cấp của họ không đủ khả năng phục vụ nhân dân vì cán bộ không được đào tạo bài bản, kỷ cương lỏng lẻo và thiếu tinh thần trách nhiệm…Ở nước ta, quản lý xã hội, vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý đô thị!

Trong đô thị còn những nguồn ô nhiễm khác mà con người ít để ý đến. Đó là sự ô nhiễm do các yếu tố vật lý, cụ thể là do các yếu tố từ trường với tần suất và cường độ khác nhau (các trạm thu - phát sóng, các đường dây truyền tải điện năng…). Hơn nữa, cho đến bây giờ chúng ta cũng chưa lường hết được về những tác động của các loại vật liệu xây dựng đến sức khoẻ của con người, đặc biệt là những loại vật liệu có nguồn gốc từ các hợp chất vô cơ. Đô thị càng phát triển thì các nguy cơ ô nhiễm từ các yếu tố đó càng lớn.

Thành phố không những bị ô nhiễm mà khí hậu của nó cũng bị thay đổi. Những thành phần cơ bản của khí hậu như bức xạ, chế độ nhiệt - ẩm, áp suất không khí, chế độ gió…luôn bị tác động bởi quá trình đô thị hoá. Nhà càng cao thì mặt đất càng bị nhiễm khuẩn vì ánh sáng mặt trời bị che khuất không đủ khả năng để tiêu diệt các loại vi trùng có hại. Do quá trình đô thị hoá và phát triển dân số diễn ra quá nhanh và quá hỗn độn nên những quy tắc quy hoạch không được tôn trọng - ví dụ như vi phạm về mật độ xây dựng, về hướng của các con đường và của các công trình…sẽ làm tăng mất mát những tia nắng tự nhiên có lợi cho sức khoẻ con người và hơn thế nữa cần phải tiêu tốn thêm một phần năng lượng đáng kể để duy trì chế độ vi khí hậu trong các không gian sống của con người,…

Rõ ràng quá trình đô thị hoá đang tồn tại rất nhiều vấn đề có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của con người và sự phát triển của xã hội. Để giải quyết tận gốc những vấn đề này thì chỉ có một cách duy nhất là cần phải làm trong sạch môi trường. Nguyên tắc xây dựng đô thị dựa trên các quy luật của sinh học có ý nghĩa vô cùng lớn trong việc tạo ra các điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của con người. Ngày nay, việc ứng dụng các quan niệm sinh thái hướng đến các đô thị phát triển bền vững cũng được xem trọng Điều quan trọng nhất là phải tạo ra môi trường thuận lợi để thế giới tự nhiên được hoạt động theo quy luật riêng của mình. Quá trình đô thị hoá của thế giới đã có kinh nghiệm thành công và không thành công.  Từ những kinh nghiệm đó, chúng ta phải tự rút ra các bài học để có thể góp phần cho sự nghiệp đô thị hoá ở nước ta trong thời gian tới.

Hướng giải quyết

Để những vấn đề của đô thị hóa ở nước ta đi đúng hướng thì một trong những nhiệm vụ cơ bản ban đầu là hoạch định cho được từng bước đi cụ thể của cả quá trình đô thị hoá. Trước tiên khi đặt vấn đề suy nghĩ về đô thị hoá tại ViệtNam: Đô thị hoá - bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp lưu truyền qua hàng ngàn năm nay sẽ ra sao? Đô thị hoá - nông dân và người nghèo được gì tại những lãnh thổ chịu tác động của quá trình đó? Văn hoá và truyền thống dân tộc sẽ thích nghi như thế nào dưới tác động mãnh liệt và quá ồ ạt của quá trình đô thị hóa?

Đô thị phát triển tự phát thiếu quy hoạch, từ đó dẫn đến việc có một số đô thị thiếu hoặc rất kém về hạ tầng kỹ thuật và xã hội, ô nhiễm môi trường, cảnh quan suy thoái.. Ở bất cứ khâu nào của công tác quy hoạch (quy hoạch mới, quy hoạch cải tạo chỉnh trang đô thị cũng như điều chỉnh quy hoạch) đều thiếu sự đồng bộ, chất lượng các các đồ án quy hoạch không được tốt, thiết kế đô thị chưa được quan tâm hoặc bỏ ngỏ, điều lệ quản lý đô thị thì lỏng lẻo và thiếu sự thống nhất giữa các cấp… Thậm chí các dự án quy hoạch còn phụ thuộc vào các nhà đầu tư! Như vậy, nguyên nhân chính của tình trạng này là do hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư xây dựng trong phát triển đô thị còn thiếu đồng bộ (nhiều lĩnh vực bị bỏ trống nhưng lại có nhiều lĩnh vực được đầu tư chồng chéo). 

Ngoài ra, đô thị hoá ở nước ta đã và đang dẫn đến mất cân đối trong sự hài hoà cần thiết giữa môi trường nhân tạo và môi trường tự nhiên. Đồng thời, cũng làm mất đi sự cân đối và sự hài hoà cần thiết giữa các vùng dân cư, các vùng kinh tế. Vậy thì, đô thị hóa nhất thiết phải được tiến hành đồng bộ cả vùng bị đô thị hoá và các lãnh thổ chịu tác động của quá trình đó.

Mặt khác, đô thị hoá đang tạo điều kiện phát triển rất nhanh cho các ngành phi sản xuất, nhưng lại cản trở sự phát triển của các ngành sản xuất vật chất cho xã hội. Điều này, rất dễ nhận thấy ở các ngành nông, lâm, ngư nghiệp... tại các vùng nông thôn bị đô thị hóa, từ đó dẫn đến phân chia giàu nghèo một cách rõ rệt. Sự phân tầng xã hội về mặt kinh tế tất yếu sẽ sinh ra phân tầng xã hội về giáo dục, về văn hoá, về hệ tư tưởng, từ đó dẫn tới mâu thuẫn trong đời sống chính trị. Đó là tiền đề cho những bất an trong đời sống xã hội.

Tăng trưởng kinh tế nhanh dẫn tới quá trình đô thị hoá tại Việt Nam diễn ra khá mạnh mẽ. Vậy chúng ta phải ứng xử như thế nào với quá trình đó? Trước hết, phải tập trung vào công tác quy hoạch và đô thị hóa một cách bài bản hơn: quy hoạch và đô thị hóa phải có tầm nhìn dài hạn và lộ trình thực hiện; quy hoạch và đô thị hóa phải có sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội; quy hoạch và đô thị hóa phải tính đến lợi ích của các bên liên quan: Nhà nước, xã hội, cộng đồng dân cư và người dân. Nhà nước có trách nhiệm chuẩn bị kế hoạch sử dụng đất, chuyển đổi mục tiêu sử dụng đất và phải chủ động đào tạo nghề cho người dân để chuyển dịch cơ cấu lao động.

Trong quy hoạch, nhất thiết phải giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá đặc sắc của mỗi vùng miền, mỗi địa phương (vật thể cũng như phi vật thể), trong đó đặc biệt chú ý đến các di tích lịch sử, các làng cổ, các giá trị văn hoá phi vật thể để có thể trở thành những điểm du lịch hấp dẫn, cũng là khoảng đệm tạo sự thông thoáng cho đô thị.Đô thị hoá ở Việt Nam phải được đặt trong bối cảnh chung của cả thế giới. Ở đây, điều quan trọng là tiếp thu khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong phát triển và quản lý đô thị như thế nào. Sự liên kết và học hỏi những kinh nghiệm tốt về đô thị hóa với thế giới là rất cần thiết. Tuy mỗi nước có hoàn cảnh và đặc thù riêng, nhưng chúng ta phải học hỏi và phải “đứng được bằng bản năng và bản sắc riêng của chính mình”.

KTS. Trần Lan Hương

Nguồn: Kiến Trúc Việt Nam